Tin tức

Blog Image

GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH

Ngày nay chúng ta thường nghe than phiền rằng việc giáo dục trẻ em không được gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm đúng mức. Trên bình diện giáo dục, nhiệm vụ của cha mẹ thật đa dạng, nó bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống, và trải ra liên tục từ lúc sơ sinh đến lúc trưởng thành, không bao giờ kết thúc được. Trong buổi nói chuyện hôm này, tôi xin phép được giới hạn chủ đề vào hai điểm mà tôi cho là nền tảng của sự hình thành nhân cách con người: Đó là sự luyện tập thói quen và sự truyền thông trong gia đình.

   1. Điểm thứ nhất: Sự luyện tập thói quen:

   Trẻ em sinh ra với nhiều khuynh hướng mâu thuẫn với nhau, nhiều khả năng chưa được định hình. Chỉ sau này, khi những sinh hoạt cùng một hướng được tiếp tục, chẳng hạn như: khi gặp người lạ thì lễ phép cúi đầu chào,… nếu được lập đi lập lại thì hành vi đó tạo thành một cái nếp. Có nếp rồi thì cuộc sống được dễ dàng hơn, vì cứ theo một đường lối mà tiến tới - Chính những nếp này kết hợp lại làm thành nhân cách con người. Ở đây chúng ta thấy trách nhiệm của cha mẹ là làm sao ảnh hưởng trên sự hình thành các nếp đó theo đường hướng mà chúng ta gọi là tốt. Nói cách khác, từ những bước đầu tiên, phải luyện tập những thói quen tốt cho con em. Bao nhiêu người ngày nay trưởng thành, thầm cảm ơn cha mẹ đã gầy dựng được những tập quán tốt cho mình, khi mình còn nhỏ, ngay cả khi chưa biết phải và quấy. Trái lại, cũng có nhiều người khác, âm thầm hay lớn tiếng trách cha mẹ đã không lo dạy dỗ mình, để cho mình bị nhiễm những thói hư tật xấu cho đến ngày nay.

Tập luyện thói quen là giáo dục vô thức, trong thời kỳ mà ý thức chưa được thể hiện đầy đủ. Đó là sự giáo dục căn bản, không thể thiếu trong những năm đầu đời, khi trẻ còn tiếp nhận mọi ảnh hưởng của cha mẹ. Chúng ta biết rằng tính tình của con người được hình thành từ 1 đến 5 tuổi, sau đó chỉ còn thêm bớt chút đỉnh mà thôi, trừ trường hợp ý chí phi thường. Độ 5 tuổi những nét chính của tính tình (cấu trúc của nhân cách) đã được hình thành.

Giáo dục căn bản gồm những điểm nào?  Để thấy rõ, chúng ta hãy quan sát một người được gọi là vô giáo dục. Người đó được hiện ra như thế nào? Đầu tóc rối bù, mặt mày dơ dáy, quần áo xốc xếch, mở miệng ra là chửi thề, la lối, bất kể hàng xóm láng giềng, xâm chiếm đồ đạc của người khác sử dụng như là của mình. Tóm lại, sống theo bản năng, theo luật rừng… Ngược lại, đứa con được dạy dỗ từ tấm bé, thường luyện tập cách sống để gia nhập vào một gia đình, noi theo nề nếp của một dòng họ. Những lời cha mẹ căn dặn, thường văng vẳng bên tai: sáng dậy đánh răng, chải đầu; quần áo phải sạch sẽ, ăn uống có giờ giấc, không được ỷ mạnh đánh em, biết xin lỗi khi làm rộn; mượn đồ của ai phải xin phép và phải nhớ trả; chào hỏi người lớn trước, đi phải thưa về phải trình, …

   Điều quan trọng mà nền giáo dục căn bản bản đã khắc sâu vào tâm trí của trẻ: là mình không thể sống buông trôi theo bản năng, mà có những giới hạn khách quan, ràng buộc tự do của mình: đó là luật lệ của xã hội trong đó mình đang sống. Tóm lại, cư xử làm sao để không làm phiền người xung quanh, mà còn đem đến niềm vui cho họ.

   Nền giáo dục căn bản là hành trang đầu tiên cha mẹ cho con khi nó bước vào đời, và sẽ là di sản tinh thần luôn theo nó đến ngày nhắm mắt. Nhờ nó, con người là một thành viên xứng đáng của xã hội, có thể đóng góp tích cực vào nền văn minh của nhân loại.

   2. Điểm thứ hai là sự thông hiểu sâu đậm giữa cha mẹ và con cái:

   Mục đích đầu tiên là hiểu con, hiểu lời nói đã đành mà còn hiểu cả những cử chỉ, những thinh lặng và những hành vi của nó nữa. Một nhà tâm lý Pháp đã viết cuốn sách tựa đề: Tất cả là ngôn ngữ. Phải chi chúng ta thường tự nhủ mình câu đó, và quyết tâm đọc cho được ý nghĩa của bao nhiêu ngôn ngữ thầm lặng xung quanh mình.

   Ví dụ: Một đứa bé đi học về, thờ thẫn ngồi vào bàn cơm, làm thinh không ngó ai. Thái độ đó nói lên một tâm tư. Liệu cha mẹ có lưu ý tới không? Nếu có, thì liệu cha mẹ có hiểu nổi không? Hay giáng xuống một gáo nước lạnh: “Thằng này làm gì mà ngồi thừ ra đó? Không lo bới cơm còn đợi gì nữa”? Một người cha, một bà mẹ nhạy cảm và hiểu con, sẽ gợi chuyện: “Hôm nay sao con có vẻ thất thần vậy? Nói cho mẹ biết với …” Đứa con có nói ra hay không, là tùy thuộc sự tin cậy của nó. Nếu có một chuỗi dài thời gian thông cảm giữa cha mẹ và con, nếu cha mẹ luôn tỏ ra ý thức được tâm trạng của nó, và đáp ứng thõa dáng thì nó sẽ nói lên: ”Thằng Tuấn, bạn thân của con đã nghỉ học rồi”.  Câu chuyện sẽ tiếp tục giữa họ với nhau, xem Tuấn nghỉ học vì lý do nào, có thể làm gì cho nó được không … Còn nếu từ trước tới nay, bầu không khí căng thẳng giữa hai thế hệ, cha mẹ chỉ rầy la mà không bao giờ tìm hiểu thì đứa trẻ sẽ ngậm miệng và không nói gì hết, nó sẽ ôm nỗi khổ tâm một mình, và mỗi ngày cái hố xa cách giữa nó và cha mẹ sẽ lớn dần.

   Trong trường hợp thứ 2 nay, cha mẹ cũng nên tìm hiểu ý nghĩa của sự thinh lặng đó. Không áp đảo con: “Tao hỏi sao mày không trả lời ? Làm gì mà câm như hến vậy? Trái lại nói nhỏ nhẹ: Sao ba hỏi mà con không trả lời? Có điều gì con cứ nói lên đi”. Trong thái độ gần gũi, cởi mở, thân tình đó, dần dần sẽ hiện ra sự thật. Có khi đứa bé nói, hoặc nếu em không nói thì cha mẹ cũng phát hiện ra ý nghĩa của sự thinh lặng kia. Nó bộc lộ tâm trạng này: “Ba má có ít thời giờ quá, ít trò chuyện với con quá - cái gì ba má cũng coi như đã biết hết rồi. Con cảm thấy không cần nói gì nữa. Nói ra vô ích, coi chừng bị mắng nữa là khác.” Khi hiểu được ý nghĩa thầm kín của sự “câm như hến” rồi thì may ra cha mẹ sẽ ý tứ hơn và cố gắng tạo bàu không khí cởi mở, để khuyến khích con bộc lộ cảm nghĩ, tâm tình của mình.

    Tóm lại, tất cả cử chỉ, thái độ, hành vi của con đều là một ngôn ngữ không lời mà cha mẹ phải khám phá ra ý nghĩa, để giải tỏa những gút mắc không nói được với con mình. 

   - Ngược lại, cha mẹ cũng nên ý thức rằng, đối với con, tất cả nơi cha mẹ đều là ngôn ngữ. Nó nhìn, nó nghe, nó tiếp thu rất tinh vi, không bỏ sót một cử chỉ, lời nói, hành vi nào cả. Bộ óc nó còn mới tinh và thời giờ nó dành cho sự khám phá thế giới bên ngoài, hầu học hỏi để khôn lớn ở đời. Bao nhiêu lần trẻ con thấy cha mẹ dạy một đường, làm một nẻo. Dạy phải kính trọng người khác và dành riêng cho mình cái quyền nói xấu bạn bè. Nếu chúng ta biết rằng quanh mình có những cặp mắt quan sát rất tinh tế, bắt được hết những tín hiệu toát ra từ cách sống và cách cư xử của chúng ta, thì chúng ta sẽ nhất quán với chính mình hơn.

   - Mặt khác, cha mẹ cũng cần cố gắng tự bộc lộ để con hiểu mình. Nên giải thích cho con thấy những lý do khi con phải làm điều này, việc nọ, một khi mà nó có đủ trí khôn để hiểu. Không thể dùng quyền lực mà bắt buộc con, như lúc nó còn khờ dại nữa. Nhiều cha mẹ nghĩ rằng phải nghiêm khắc với con cái, phải giữ khoảng cách với chúng, thì mới dạy chúng được. Điều này có thể đúng trước kia, nhưng bây giờ thì sẽ phản tác dụng. Hệ thống giá trị của tuổi trẻ hôm nay đã thay đổi. Tuy có thể còn ấu trĩ dưới vài khía cạnh, nhưng các em muốn được đối xử như người lớn, được kính trọng, hỏi han ý kiến và đối thoại với cha mẹ như với những người bạn.

   Vài ví dụ: Chia sẻ với con sự lo âu của mình khi nghĩ đến tương lai của chúng. Khi phạt con, cho nó biết cha mẹ còn đau đớn hơn con nữa, nhưng phải làm vì muốn tránh cho con những hậu quả nặng nề về sau.

   Người lớn cũng có thể sai lầm và trẻ con ý thức được điều đó. Tại sao không thừa dịp đó để làm cho con hiểu mình hơn? “Mẹ đã không suy nghĩ kỹ, khi cản không cho con đi chơi ở Long Hải với lớp con. Mẹ đã lấy một quyết định sai, mẹ tiếc quá!”  “Cha đã lầm khi la rầy con mà không có bằng chứng, cha nóng tính quá, con tha lỗi cho cha”. Cha mẹ có dám nói với con những điều đó không? Có lẽ nhiều người sẽ trả lời là không vì còn đâu là uy quyền của cha mẹ nữa, khi hạ mình trước mặt con. Tôi nghĩ khác. Trong xã hội hôm nay trẻ con nghe thấy rất nhiều điều và khôn lanh hơn thế hệ trước. Khi nó thấy cha mẹ nhìn nhận những sơ hở của mình, nó cảm phục sự trung thực đó, và sau này nếu nó có lầm lỡ, nó sẽ ít do dự mà tâm sự với họ.

   Có một ông đã hỏi tôi: “Có nên nói cho con mình biết là mình ham chơi hồi nhỏ, để bây giờ thất học và mong con đừng bước theo dấu chân của mình. Có thể nói theo cách đó không? Sợ làm vậy nó hết phục mình và không vâng lời mình nữa.” Tôi trả lời: Tùy ở lứa tuổi của đứa con, nhưng cần thiết là phải cho trẻ cảm thấy  tình thương của mình qua cuộc trao đổi đó. Được như vậy thì sẽ không có hại. Dù không nói ra con nó cũng biết rồi. Thành ra nói lên không có hại mà chỉ có lợi, là đem đến sự cảm thông giữa hai cha con. Nếu những cuộc đối thoại tương tự được diễn ra thường xuyên, thì tránh được những trường hợp xảy ra quá nhiều hiện nay, là cha mẹ và con cái không còn nói chuyện với nhau được nữa. Mạnh cha mẹ la rầy , mạnh con phớt lờ làm theo sở thích của mình. Bọn trẻ tỏ ra nhàm chán với lời nói của cha mẹ - Còn cha mẹ thì cảm thấy hoàn toàn bất lực đối với chúng. Nếu tình thế này xảy đến, thì phải nhờ một trung gian, ép buộc hai bên ngồi lại với nhau, lắng nghe và đối thoại xây dựng với nhau. Đó là tác dụng của phương pháp gia đình trị liệu.

 

Kết luận:

   Trong giáo dục gia đình, chúng ta đã xét qua hai điểm trọng yếu. Thứ nhất là sự giáo dục căn bản, tập luyện các phản ứng có nề nếp nơi trẻ em, từ lúc mới chào đời. Rèn luyện cách cư xử để trở nên một con người có văn hóa, biết tự trọng và kính trọng người khác. Điểm thứ hai là sự thông hiểu sâu đậm giữa cha mẹ và con cái, qua thói quen trao đổi thường xuyên với nhau, từ những vấn đề buồn vui nhỏ nhặt, đến những chuyện quan trọng. Gầy dựng nếp sống cởi mở này, sẽ làm vơi đi nhiều căng thẳng và tạo nên bầu không khí đầm ấm trong gia đình. Hai điểm trên đây là nền tảng của nhân cách con người. Chính cái nhân cách duy nhất đó làm cho con em chúng ta quý giá vô ngần. Về cơ thể, mà nhất là về tinh thần, không bao giờ có một bản thứ hai, in đúc như vậy. Thành ra mỗi đứa trẻ xứng đáng được nâng niu, trân trọng và dành cho mọi dịp may triển nở, để cống hiến những hoa trái đặc sắc cho đời.

                                                                                                                   (Còn tiếp)

          Nguồn:  NHỮNG ĐIỀU MẸ SẼ DẠY CON, TS TÔ THỊ ÁNH, NXB TRẺ, 1996

 

 

 

 

 

 

 

  1.